Quay về website thinhtrigroup.com

Trang chủ / Hướng dẫn áp dụng Điều 201 của BLHS và việc xét xử vụ án cho vay lãi nặng

Hướng dẫn áp dụng Điều 201 của BLHS và việc xét xử vụ án cho vay lãi nặng

13/08/2021


HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG ĐIỀU 201 CỦA BLHS

VÀ VIỆC XÉT XỬ VỤ ÁN CHO VAY LÃI NẶNG

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

  • Sau khi nghiên cứu Dự thảo lần đầu Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán về hướng dẫn áp dụng Điều 201 của BLHS và việc xét xử vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Chúng tôi, có một số nhìn nhận như sau:
  • Theo Dự thảo, “Giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 116 của BLDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. “Thu lợi bất chính” là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của BLDS.
  • Trường hợp hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện với nhiều người thì khoản tiền thu lợi bất chính được xác định là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay, nếu hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.
  • “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” là trường hợp người phạm tội trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
  • “Đã bị bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” là trường hợp người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hoặc tội cho vay lãi nặng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại tại Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
  • Về xác định số tiền thu lợi bất chính. Trường hợp giao dịch dân sự chưa hết thời hạn mà bị phát hiện thì tiền thu lợi bất chính được xác định theo số tiền mà người vay thực tế đã trả.
  • Ví dụ 1: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay 300 triệu đồng trong thời gian 02 tháng, tiền lãi là 90 triệu đồng được trả làm 2 đợt cho đến khi hết hạn hợp đồng. Tuy nhiên, khi hết 1 tháng, B mới trả được 45 triệu thì hành vi cho vay lãi nặng bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn. Trường hợp này, tiền thu lợi bất chính được xác định là số tiền 45 triệu trừ đi số tiền lãi 5 triệu (mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự).
  • Ví dụ 2: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay 300 triệu đồng, thời hạn vay là 02 tháng, tiền lãi là 80 triệu đồng. Tuy nhiên thực tế A cho giao cho B 220 triệu đồng tiền vay, còn 80 triệu đồng A đã trừ trước tiền lãi. Khi hết thời hạn 1 tháng thì bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn. Trường hợp này, số tiền thu lợi bất chính được xác định là 80 triệu trừ đi số tiền lãi 5 triệu (mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự).
  • Trường hợp giao dịch dân sự đã hết hạn nhưng người vay chưa trả được tiền lãi hoặc mới trả được một phần tiền lãi thì số tiền thu lợi bất chính vẫn được xác định trên cơ sở của cả thời gian của giao dịch dân sự.
  • Theo Dự thảo, trường hợp người thực hiện hành vi cho vay lãi nặng thu phí của người vay (như phí hợp đồng, phí tư vấn, phí dịch vụ, phí liên lạc...) thì khoản tiền này được cộng với tiền lãi để xác định lãi suất và tiền thu lợi bất chính khi xem xét trách nhiệm hình sự.
  • Trường hợp người môi giới (trung gian) câu kết với người cho vay thu phí dịch vụ của người vay để cùng thu lợi bất chính thì khoản tiền này được cộng với tiền lãi để tính lãi suất và tiền thu lợi bất chính khi xem xét trách nhiệm hình sự.
  • Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mà tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần phạm tội từ 100 triệu đồng trở lên, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.