Quay về website thinhtrigroup.com

Trang chủ / Định tội danh giữa tội Giết người và tội Cố ý gây thương tích

Định tội danh giữa tội Giết người và tội Cố ý gây thương tích

13/08/2021


ĐỊNH TỘI DANH GIỮA TỘI GIẾT NGƯỜI

VÀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

1.Định tội danh dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm của tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

2.Những vấn đề cần đặt ra

  Định tội danh là vấn đề cơ bản, quan trọng của khoa học luật hình sự, đồng thời cũng đóng vai trò là hoạt động chủ đạo trong thực tiễn tố tụng của cơ quan công an, viện kiểm sát và tòa án. Về cơ bản có thể hiểu định tội danh là hoạt động mang tính logic, dựa trên cơ sở là các chứng cứ, tài liệu cũng như các tình tiết thực tế của vụ án để đối chiếu, so sánh, kiểm tra nhằm xác định những điểm phù hợp hoặc không phù hợp giữa các dấu hiệu pháp lý của hành vi nguy hiểm cho xã hội với các yếu tố cấu thành tội phạm của một tội nhất định trong Bộ luật Hình sự (BLHS). Nhằm đánh giá đúng sự thực khách quan, tạo tiền đề để phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật. Thực tế cho thấy cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn trong việc định tội danh, nhất là trong trường hợp các tội có cấu thành tương tự nhau. Các vụ án cần định tội danh giữa tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thường vẫn còn nhiều quan điểm tranh cãi.

1.Định tội danh dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm của tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

  • Trên thực tiễn, tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đều là những tội phạm rất nguy hiểm, có cấu thành riêng biệt, khác nhau về khách thể, về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả. Dẫu vậy, vẫn tồn tại rất nhiều trường hợp mà sự tách bạch và ranh giới giữa hai loại tội này thực sự mong manh. Mặc dù, trong quá khứ đến hiện tại đã có không ít những văn bản hướng dẫn việc phân biệt và định tội danh đối với hai tội này như: Nghị quyết số 01/NQ ngày 19/4/1989, Nghị quyết số 04/NQ ngày 29/11/1996 của Hội đồng thẩm phán (HĐTP TANDTC) và Công văn số 03/CV ngày 22/10/1987, số 140/CV ngày 11/12/1998 của TANDTC. Trên thực tế, trong quá trình giải quyết vụ án chính các cơ quan tiến hành tố tụng cũng có sự nhầm lẫn giữa hai loại tội này, đánh giá sai về tính chất, mức độ của hành vi. Áp dụng hình phạt không tương xứng với hậu quả gây ra.
  • Thứ nhất, về khách thể: Tội giết người xâm phạm đến quyền được sống, được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Trong khi đó, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe và bất khả xâm phạm về thân thể của con người[3].
  • Thứ hai, về hành vi khách quan. Đối với tội giết người hành vi khách quan có thể tồn tại dưới dạng hành động. Người thực hiện hành vi giết người thường sử dụng công cụ, phương tiện, vũ khí tấn công vào khu vực trọng yếu trên cơ thể hoặc thực hiện các hành vi khác nhằm làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm - quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Người thực hiện hành vi giết người có thể thực hiện hành vi mang tính dồn dập, quyết liệt, tàn nhẫn (bổ, chém, đâm, chặt nhiều nhát) nhưng cũng có thể thực hiện hành vi rất tinh vi, xảo quyệt, thâm độc (bỏ thuốc độc, thả rắn vào nhà…).
  • Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì bắt buộc chủ thể phải thực hiện dưới dạng hành động, người thực hiện loại tội này cũng có thể sử dụng các vũ khí, vật tày, vật nhọn, xe máy, ô tô…làm phương tiện thực hiện các hành vi phạm tội. Về tính chất, mức độ của hành vi cũng có thể mang tính quyết liệt, côn đồ, mạnh mẽ nhưng hành vi này chỉ tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương, bị tổn hại sức khỏe chứ không tổn hại đến tính mạng. Có trường hợp người phạm tội cưỡng bức người bị hại tự làm tổn hại cho sức khỏe của mình như tự chọc vào mắt mình, uống thuốc phá thai, chặt ngón tay…
  • Thứ ba, về hậu quả: Tội giết người có cấu thành vật chất, đòi hỏi hậu quả chết người phải xảy ra, tuy nhiên trong một số trường hợp mặc dù chưa gây hậu quả chết người nhưng chủ thể thực hiện hành vi vẫn phải chịu hình phạt về tội này. Đó là khi chủ thể đã thực hiện xong hành vi phạm tội, nhưng do yếu tố khách quan mà hậu quả chưa xảy ra (phạm tội chưa đạt, đã hoàn thành). Ví dụ: A dùng dao đâm B nhiều nhát với mong muốn giết B, sau đó ném B xuống sông. Tuy nhiên B được người dân cứu vớt lên bờ và đưa đi chữa trị kịp thời nên đã qua khỏi. Đối với những trường hợp này, hành vi phạm tội của A đã hoàn thành, thỏa mãn tất cả các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm. Nói cách khác, A đã làm mọi cách, thực hiện hết tất thảy các hành vi có thể để giết B nhưng hậu quả không xảy ra nằm ngoài mong muốn và dự tính của người thực hiện hành vi phạm tội (mang tính khách quan), bởi lẽ tại thời điểm thực hiện hành vi của mình, A đã thấy toàn bộ các biểu hiện của nạn nhân B và tự kết luận nạn nhân đã chết nên mới chấm dứt hành vi tấn công lại.
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cũng có cấu thành vật chất, đòi hỏi nạn nhân phải bị thương tật với một mức nhất định. Theo đó, hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên bị coi là tội phạm. Tỉ lệ thương tật càng cao, khung hình phạt càng hớn. Nếu hậu quả tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp như: Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Dùng axit nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi; Phạm tội đối với phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; phạm tội đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình…thì cũng được coi là tội phạm.
  • Thứ tư, về yếu tố lỗi: Trong trường hợp phạm tội giết người, người thực hiện hành vi có lỗi cố ý đối với hậu quả chết người. Nghĩa là họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả đó xảy ra. Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người chưa đạt. Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (nếu thỏa mãn cấu thành của loại tội này)
  • Trong khi đó, người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể thấy trước hậu quả gây tổn thương cơ thể cho người khác và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc có ý thức để mặc hậu quả xảy ra (tức là vô ý với cái chết của nạn nhân).

2.Những vấn đề cần đặt ra

  • Trên cơ sở những nội dung đã phân tích nêu trên, xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để làm sáng tỏ những điểm khác biệt giữa hai loại tội này, góp phần giúp cơ quan tiến hành tố tụng phân biệt và định tội danh chính xác, tăng tính hiệu quả của hoạt động tố tụng, tránh oan sai, cụ thể như sau:
  • Thứ nhất, về định tội danh với tội giết người và tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đây là vấn đề lý luận cần tiếp tục được nghiên cứu và tìm hiểu. Quá trình này là tiền đề để đưa ra những lưu ý, hướng dẫn và các quy tắc áp dụng chung để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong việc giải quyết các vụ án trên thực tiễn. Ngược lại, thực tiễn định tội danh sẽ đóng vai trò kiểm chứng tính đúng đắn của những vấn đề lý luận, qua đó giúp các nhà nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận, tạo tiền đề để sửa đổi pháp luật hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất.
  • Thứ hai, trước khi có văn bản hướng dẫn chi tiết hoặc pháp luật được sửa đổi, cơ quan tiến hành tố tụng cần đánh giá vấn đề một cách toàn diện, xem xét mọi dấu hiệu pháp lý của hành vi như: vị trí tấn công; công cụ, phương tiện sử dụng; cường độ, tính chất quyết liệt; mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả; động cơ, mục đích… và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Trong đó trọng tâm là làm rõ ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội. Việc xem xét đầy đủ các tiêu chí trên là yếu tố bắt buộc, bởi lẽ bỏ qua một trong những tiêu chí trên có thể làm thay đổi toàn bộ sự thật khách quan của vụ án. Đồng thời, đây cũng là đòi hỏi chung nhằm đảm bảo nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra (Điều 19, BLTTHS năm 2015) với nội dung trọng tâm yêu cầu mọi hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành khách quan, toàn diện và đầy đủ.
  • Thứ ba, Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần xem xét và lựa chọn ra một bản án điển hình để tạo thành án lệ có hiệu lực áp dụng chung đối với các vụ án tương tự về sau. Trong đó nhấn mạnh trường hợp nào thì xử lý tội giết người, trường hợp nào truy cứu trách nhiệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Việc ban hành án lệ vừa lược bớt các thủ tục lập pháp hoặc sửa đổi pháp luật rườm rà, vừa tiết kiệm được thời gian và ngân sách nhà nước. Mặt khác, giúp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng tháo gỡ những khó khăn trong việc định tội danh đối với các trường hợp tương tự.
  • Thứ tư, cần xem xét ban hành văn bản hướng dẫn phân biệt giữa hành vi giết người và cố ý gây thương tích trong một số trường hợp nhất định như: hành vi giết người chưa đạt và hành vi cố ý gây thương tích; trường hợp giết người với lỗi cố ý gián tiếp khi hậu quả chưa xảy ra với trường hợp hậu quả đã xảy ra…Tác giả cho rằng, các văn bản hướng dẫn như Nghị quyết 01 ngày 19/4/1989, Nghị quyết 04 ngày 29/11/1996 đều của Hội đồng thẩm phán TANDTC còn chung chung, chưa cụ thể từng hành vi, một số hướng dẫn không còn phù hợp với thực tiễn dẫn đến cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng không thống nhất. Có hướng dẫn mới chỉ giải thích được trường hợp gây thương tích dẫn đến chết người mà không đề cập đến trường hợp giết người với lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Các hướng dẫn đều cho rằng dùng hung khí nguy hiểm đánh vào vùng trọng yếu của cơ thể là dấu hiệu pháp lý bắt buộc để xử tội giết người. Đây là quan niệm hết sức cứng nhắc, đã bỏ qua nhiều tiêu chí khác có ý nghĩa trong việc định tội danh [7]. Để đáp ứng sự thay đổi của xã hội và pháp luật, cần phải ban hành văn bản hướng dẫn mới thay thế các văn bản cũ nêu trên, trong đó cập nhật các quy định mới có nội dung chi tiết và phù hợp với thực tiễn hiện nay. Qua đó, tạo căn cứ pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật được thống nhất, nâng cao hiệu quả xét xử, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.
  • Thứ năm, cần đẩy mạnh đào tạo, trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ, nghiệp vụ, đạo đức và bản lĩnh chính trị của đội ngũ điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán…trong các cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án. Đồng thời, mở rộng chính sách tuyển chọn cán bộ, công chức trong các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm tạo được sự quan tâm của xã hội, thu hút được người tài làm việc, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh và phòng chống tội phạm của nhà nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cải cách tư pháp nói riêng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung.